Chương II – Tuyên xưng Đức Tin KI-TÔ GIÁO | Sống Đạo – Giáo lý cấp III | TGM Xuân Lộc

PHẦN I: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN

Chương 2: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN KI-TÔ GIÁO

“Nghe đây, hỡi Is-ra-el: Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em”. (Đnl 6,4-5)

Bài 06: THIÊN CHÚA LÀ DUY NHẤT

H. Khi tuyên xưng Thiên Chúa duy nhất, ta phải hiểu thế nào? (GLCG.29)

T. Ta phải hiểu: chỉ có một Thiên Chúa và ngoài Người ra, không có Thiên Chúa nào khác, và ta phải thờ phượng một mình người mà thôi. (x.Mt 4,10)

H. Thiên Chúa có tỏ cho ta biết tên của tên của Người không? (GLCG.30)

T. Thiên Chúa tỏ cho ta biết tên của người là Đấng Hiện Hữu.

H. Đấng Hiện Hữu có nghĩa là gì? (GLCG.31)

T. Nguyên lý Thiên Chúa tự mình mà có, không do ai tạo thành và không có kết thúc. Người luôn có mặt bên ta, để chăm sóc và cứu giúp ta.

H. Thiên Chúa có tỏ cho ta biết thêm về người nữa không? (GLCG.32)

T. Thiên Chúa còn tỏ cho ta biết Người “giàu ơn nghĩa và trung tín” (Xh 34,6). Người chính là Sự Thật và Tình Yêu.

H. Niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất ảnh hưởng đến đời sống ta thế nào? (GLCG.33)

T. Niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất giúp ta:

– Một là nhận biết sự cao cả và uy quyền của Thiên Chúa để phụng thờ Người.

– Hai là sống trong tâm tình cảm tạ.

– Ba là nhận biết phẩm giá đích thực của tất cả mọi người.

– Bốn là sử dụng tốt các thụ tạo.

– Năm là tin tưởng vào Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh.

Hướng ý cầu nguyện: Xin biết ơn tôn thờ Chúa, là Thiên Chúa duy nhất và đặt trọn niềm tin tưởng vào Chúa là Cha yêu thương.

Gợi ý sống đạo: Dứt khoát không đi xem bói.

Bài 07: THIÊN CHÚA LÀ CHA VÀ CON VÀ THÁNH THẦN

“Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần . A-men” (2 Cr 13,13)

H. Mầu nhiệm trung tâm của Đức Ki-tô giáo là mầu nhiệm nào? (GLCG.34)

T. Là mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

H. Nhờ đâu ta biết mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi? (GLCG.35)

T. Nhờ Chúa Giê-su mặc khải mà ta biết mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. (x. Mt 28,19)

H. Ta phải hiểu thế nào về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi? (GLCG.36)

T. Ba Ngôi tuy riêng biệt nhưng cùng một bản thể duy nhất và một uy quyền ngang nhau, nên chỉ là một Thiên Chúa duy nhất mà thôi (Kinh Tiền tụng là Chúa Ba Ngôi).

H. Ba Ngôi hoạt động thế nào? (GLCG.37)

T. Ba Ngôi cùng hoạt động trong mọi công trình, nhưng mỗi Ngôi biểu lộ nét riêng biệt: Chúa Cha tạo dựng, Chúa Con cứu chuộc và Chúa Thánh Thần thánh hóa.

H. Thiên Chúa tỏ cho ta biết mầu nhiệm Ba Ngôi để làm gì? (GLCG.38)

T. Để mời gọi ta thông phần vào chính sự sống của Ba Ngôi, và góp phần làm cho gia đình ta cũng như dân tộc và Hội thánh, thành cộng đoàn hiệp thông theo khuôn mẫu Thiên Chúa Ba Ngôi.

Hướng ý cầu nguyện: Xin ơn cho gia đình và cộng đoàn mình đang sống.

Gợi ý sống đạo: Làm dấu thánh giá nghiêm túc và kính cẩn.

Bài 08: THIÊN CHÚA: ĐẤNG SÁNG TẠO VÀ QUAN PHÒNG

“Mọi âu lo, trút cả cho Người vì Người chăm sóc anh em”. (1 Pr 5,7)

H. Trong Kinh Tin kính, ta tuyên xưng điều gì về Thiên Chúa sáng tạo? (GLCG.39)

T. Ta tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng tạo thành trời và đất, muôn vật hữu hình và vô hình.

H. Thiên Chúa có chăm sóc những loài Chúa đã sáng tạo không? (GLCG.44)

T. Thiên Chúa vẫn tiếp tục chăm sóc & hướng dẫn mọi loài thụ tạo, để vũ trụ tiến dần đến mức hoàn hảo như Chúa muốn. Đó là sự quan phòng.

H. Ta phải hiểu thế nào về sự dữ ở trần gian này?

T. Niềm tin Ki-tô giáo giúp ta hiểu rằng:

– Một là Thiên Chúa không tạo nên sự dữ. Người sáng tạo vạn vật tốt lành nhưng chưa hoàn hảo.

– Hai là con người đã lạm dựng tự do Thiên Chúa ban, nên gây đau khổ.

– Ba là Thiên Chúa có thể rút ra sự tốt lành từ chính điều dữ, theo những đường lối mà ta chỉ biết được một cách đầy đủ trong cuộc sống đời sau.

H. Thiên Chúa dùng cách đặc biệt nào để làm sáng tỏ mầu nhiệm sự dữ và đau khổ?

T. Thiên Chúa làm sáng tỏ mầu nhiệm sự dữ và đau khổ cách đặc biệt nhờ cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Giê-su Ki-tô.

Hướng ý cầu nguyện: Biết nhận ra sự dẫn dắt của Chúa trong từng biến cố cuộc đời, và biết tín vào Chúa khi gặp đau khổ thử thách.

Gợi ý sống đạo: Em nỗ lực học tập và phó thác kết quả cho Chúa.

Bài 09: THIÊN CHÚA TẠO DỰNG CON NGƯỜI

“Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang vinh dự làm mũ triều thiên, cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân.” (Tv 8,6)

H. Vì ý nào Thiên Chúa tạo dựng loài người có nam có nữ? (GLCG.50)

T. Thiên Chúa tạo dựng loài người có nam có nữ cùng một phẩm giá để họ bổ túc cho nhau, và trong hôn nhân họ được cộng tác với Người để lưu truyền sự sống.

H. Khi tạo dựng, Thiên Chúa đã ban cho con người những đặc ân nào? (GLCG.51)

T. Thiên Chúa đã ban cho tổ tông loài người được sống trong ơn nghĩa với Thiên Chúa, không phải đau khổ và không phải chết. Nhưng hạnh phúc ấy đã mất khi tổ tông phạm tội.

H. Tổ tông loài người đã phạm tội gì? (GLCG.54)

T. Tổ tông loài người đã lạm dụng tự do mà không vâng phục Thiên Chúa, từ chối tình yêu và sống đối nghịch với Người. Đó là tội tổ tông.

H. Sau khi tổ tông phạm tội, Thiên Chúa có bỏ loài người không? (GLCG.57)

T. Không. Thiên Chúa chẳng bỏ mà lại hứa ban Đấng cứu thế để cứu chuộc loài người.

Hướng ý cầu nguyện: Cảm tạ Chúa vì được làm người và làm con Chúa.

Gợi ý sống đạo: Giữ gìn thân xác sạch sẽ thì thân xác là quà tặng của Thiên Chúa.

Bài 10: CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ

“Đức Giê-su lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Ông Si-mon Phê-rô thưa: “Thầy là đấng Ki-tô, con Thiên Chúa hằng sống.” (Mt 16,15-16)

H. Trong Kinh Tin Kính, ta tuyên xưng điều gì về Chúa Giê-su Ki-tô? (GLCG.58)

T. Ta tuyên xưng Chúa Giê-su Ki-tô là con Một Thiên Chúa đã xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại.

H. Vì sao Con Thiên Chúa xuống thế làm người được gọi tên là Giê-su? (GLCG.59)

T. Vì tên gọi ấy nói lên sứ mệnh của Người là “Thiên Chúa Cứu Độ” (x. Mt 1,21).

H. Vì sao Chúa Giê-su được gọi là Đấng Ki-tô? (GLCG.60)

T. Chúa Giê-su được gọi là Đấng Ki-tô vì Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người, để người chu toàn sứ mệnh Tư tế, Ngôn sứ và Vương đế (x. Cv 10,38).

H. Vì sao ta tuyên xưng Chúa Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa? (GLCG.61)

T. Vì Chúa Giê-su Ki-tô là Ngôi Con được Chúa Cha sinh ra từ đời đời. Người là Con Một của Chúa Cha và chính Người cũng là Thiên Chúa.

H. Vì sao ta tuyên xưng Chúa Giê-su Ki-tô là Chúa? (GLCG.62)

T. Ta tuyên xưng Chúa Ki-tô là Chúa vì ta nhận uy quyền tối cao và thần linh của Người.

Hướng ý cầu nguyện: Xin ơn biết tin vào Chúa Giê-su Ki-tô là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ.

Gợi ý sống đạo: Đọc kinh Truyền tin mỗi ngày.

Bài 11: CUỘC SỐNG TRẦN THẾ CỦA CHÚA GIÊ-SU

“Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê giảng dạy trong các hội đường của họ, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết bệnh hoạn, tật nguyền của người dân” (Mt 4,23).

H. Cuộc sống trần thế của Đức Giê-su có mục đích gì? (GLCG.67)

T. Trong cuộc sống trần thế, tất cả những gì Chúa Giê-su đã nói, đã làm và mặc khải về Chúa Cha, cứu chuộc loài người và quy tụ muôn loài để tất cả được hiệp thông với Thiên Chúa (x. Ep 1,10)

H. Khi rao giảng Chúa Giê-su chú ý loan báo điều gì? (GLCG.71)

T. Khi rao giảng, Chúa Giê-su loan báo: “Thời kỳ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng (Mc 1,15)

H. Có những dấu chỉ nào cho ta thấy Nước Thiên Chúa đang đến? (GLCG.73),

T. Để chứng tỏ rằng Nước Thiên Chúa đang đến, Chúa Giê-su đã làm nhiều phép lạ và những việc phi thường như: biến nước thành rượu, hóa bánh ra nhiều, xua trừ ma quỷ, chữa lành bệnh tật, cho kẻ chết sống lại và nhất là chính Người sau khi chết đã sống lại.

H. Khi đi rao giảng Tin Mừng , Chúa Giê-su có chọn ai cộng tác với Người không? (GLCG.74)

T. Chúa Giê-su đã chọn 12 người gọi là Tông đồ để chia sẻ sứ mệnh của Người và trao cho Phê-rô quyền cai quản Hội thánh.

H. Các tông đồ là những vị nào? (GLCG.75)

T. Đó là Si-mon mà Người gọi là Phê-rô, rồi đến  An-rê, anh của ông, sau đó là Gia-cô-bê, Gio-an, Phi-lip-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Mat-theu, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-mon Nhiệt Thành, Giu-da con ông Gia-cô-bê và Giu-da-Ít-ca-ri-ốt, kẻ phản bội (x. Lc 6,14 -16).

H. Biến cố Chúa Giê-su có ý nghĩa gì? (GLCG.76)

T. Biến cố hiển dung có những ý nghĩa này:

– Một là bày tỏ vinh quang thần linh của Chúa Giê-su để củng cố niềm tin các tông đồ trước cuộc khổ nạn.

– Hai là cho ta nếm trước hạnh phúc ngày Chúa Ki-tô lại đến trong vinh quang.

– Ba là xác định ai muốn bước vào vinh quang phải qua thập giá.

Hướng ý cầu nguyện: Xin cho biết giá trị mỗi giai đoạn cuộc sông theo gương Chúa Giê-su.

Gợi ý sống đạo: Làm tròn bổn phận con cái trong gia đình.

Bài 12: CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊ-SU

“Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành.” (1 Pr 2,24)

H. Vì sao Chúa Giê-su bị chống đối? (GLCG.78)

T. Vì nhiều người trong giới lãnh đạo Do Thái cho rằng Chúa Giê-su chống lại luật Mô-sê, coi thường Đền thờ Giê-ru-sa-lem và nhất là phạm thượng, dám coi mình bằng Thiên Chúa.

H. Chúa Giê-su có thái độ nào đối với lề luật Mô-sê? (GLCG.79)

T. Người không hủy bỏ, nhưng đã tuân giữ trọn vẹn và làm cho nên hoàn hảo.

H. Chúa Giê-su có thái độ nào đối với Đền thờ? (GLCG.80)

T. Chúa Giê-su rất tôn trọng Đền thờ vì đó là nhà Cha Người, là nơi dành riêng để cầu nguyện và gặp gỡ Thiên Chúa. Tuy nhiên, người Do Thái đã hiểu lầm khi người nói: “Các ông cứ phá Đền thờ này đi, nội trong ba ngày, Ta sẽ xây dựng lại” (Ga 2,19). Vì “Đền thờ Người muốn nói ở đây chính là Thân thể Người” (Ga 2,19-21).

H. Chúa Giê-su đã có thái độ nào đối với niềm tin của dân Is-ra-el vào Thiên Chúa duy nhất? (GLCG.81)

T. Chúa Giê-su vẫn tôn trọng niềm tin của dân Is-ra-el vào Thiên Chúa duy nhất; nhưng vì Người cũng là Thiên Chúa, nên người tự xưng mình làm chủ ngày sa-bát, có quyền tha tội. Vì thế một số người Do Thái đã lên án Người là kẻ phạm thượng.

H. Chúa Giê-su đã chịu chết như thế nào? (GLCG.86)

T. Chúa Giê-su đã chịu đóng đinh và chết trên thập giá. Xác người được mai táng trong mồ, còn linh hồn Người thì xuống ngục tổ tông.

H. Chúa Giê-su xuống ngục tổ tông để làm gì? (GLCG.87)

T. Chúa Giê-su xuống ngục tổ tông để loan báo Tin Mừng cứu độ cho những người công chính đã chết trước khi Người đến.

Hướng ý cầu nguyện: Xin ơn biết hiệp thông với những đau khổ của Chúa Ki-tô.

Gợi ý sống đạo: Sống bình tĩnh khi bị hiểu lầm.

Bài 13: CHÚA GIÊ-SU ĐÃ SỐNG LẠI VÀ LÊN TRỜI

“Hỡi người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự y như các ông đã thấy Người lên trời”

H. Việc Chúa Giê-su sống lại có phải là sự kiện lịch sử không? (GLCG.90)

T. Việc Chúa Giê-su sống lại không những là sự kiện lịch sử, mà còn là một biến cố siêu nhiên vượt trên lịch sử, nên  giác quan không thể kiểm nhận được, vì khi sống lại, thân xác của Người đã được biến đổi thành thân xác vinh hiển, thần thiêng.

H. Việc Chúa Giê-su sống lại là công trình của ai? (GLCG.91)

T. Việc Chúa Giê-su sống lại không chỉ là công việc của Người, mà còn là công trình của Ba Ngôi Thiên Chúa.

H. Việc sống lại của Chúa Giê-su chứng thực điều gì? (GLCG.92)

T. Việc Chúa Giê-su sống lại chứng thực điều này:

– Một là Chúa Giê-su chính là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa Thật

– Hai là những lời hứa trong Kinh Thánh nay đã được thực hiện.

– Ba là mọi điều Chúa Giê-su đã nói và làm đều chân thật.

H. Sau khi sống lại Chúa Giê-su đã làm gì? (GLCG.94)

T. Sau khi sống lại, Chúa Giê-su còn hiện ra dạy dỗ, an ủi các môn đệ trong 40 ngày rồi Người lên trời ngự bên hữu Chúa Cha.

H. Chúa Giê-su lên trời ngự bên hữu Chúa Cha nghĩa là gì? (GLCG.95)

T. Có những ý nghĩa này:

– Một là người không còn hiện diện hữu hình ở trần gian.

– Hai là Người được Chúa Cha tôn vinh.

– Ba là Người dẫn đường chúng ta vào Nước vinh hiển của Chúa Cha và không ngừng chuyển cầu cho ta.

H. Chúa Giê-su còn đến thế gian nữa không? (GLCG.97)

T. Chúa Giê-su sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết.

Hướng ý cầu nguyện: Cảm tạ Chúa đã sống lại để mang đến cho cuộc đời chúng ta ý nghĩa và niềm vui.

Gợi ý sống đạo: Thỉnh thoảng em ngước nhìn trời để sống tươi vui.

Bài 14: CHÚA THÁNH THẦN

“Người là Thần Khí sự thật xuất phát từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy”

H. Chúa Thánh Thần là Đấng nào? (GLCG.101)

T. Chúa Thánh Thần là ngôi thứ Ba, bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra. Người là Thiên Chúa thật, cùng một bản tính và một quyền năng như hai ngôi cực trọng ấy.

H. Chúa Thánh Thần còn được gọi bằng những danh xưng nào? (GLCG.102)

T. Người còn được gọi là “Đấng ban Sự Sống”, “Đấng Bào Chữa”, “Đấng An Ủi” và “Thần Chân Lý”.

H. Kinh Thánh thường dùng những hình ảnh nào để chỉ Chúa Thánh Thần? (GLCG.103)

T. Kinh Thánh thường dùng hình ảnh này: nước, lửa, việc xức dầu, áng mây, ánh sáng, ấn tín, bàn tay, ngón tay và chim bồ câu.

H. Chúa Thánh Thần có hiện diện trong lịch sử Cựu ước không?

T. Người hiện diện trong mọi thời điểm quan trọng của lịch sử Cựu ước: Khi Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, khi Thiên Chúa hứa ban Đấng cứu độ, trong các cuộc thần hiện và trong niềm mong đợi Đấng cứu thế.

H. Chúa Thánh Thần đã xây dựng Hội thánh thế nào? (GLCG.107)

T. Chúa Thánh Thần ban sức sống cho Hội Thánh, hợp nhất các tín hữu nên một trong Chúa Ki-tô và thúc đẩy Hội thánh chu toàn sứ mệnh chúa Ki-tô giao phó.

H. Chúa Thánh Thần thánh hóa Hội thánh như thế nào? (GLCG.108)

T. Chúa Thánh Thần làm cho các tín hữu trở nên con cái Chúa Cha, và dự phần vào chính sự sống Chúa Ki-tô. Người còn cho họ nhận biết sự thật, dạy họ cầu nguyện, thúc đẩy họ sống mến Chúa yêu người, và làm chứng cho Chúa Ki-tô.

H. Ta phải sống với Chúa Thánh Thần thế nào? ( GLCG.109)

T. Ta phải tin kính, thờ phượng, cầu xin Chúa Thánh Thần và vâng theo ơn Người soi sáng, cùng tôn trọng hồn xác ta là đền thờ của Người.

Hướng ý cầu nguyện: Đọc hoặc hát kinh Chúa Thánh Thần.

Gợi ý sống đạo: Khi gặp khó khăn, biết xin ơn Chúa Thánh Thần.

Bài 15: HỘI THÁNH TRONG CHƯƠNG TRÌNH CỨU ĐỘ CỦA THIÊN CHÚA

“Chúng tôi là cộng sự viên của Thiên Chúa. Anh em là cánh đồng của Thiên Chúa, là ngôi nhà Thiên Chúa xây lên.” (1 Cr 3,9)

H. Hội Thánh là cộng đoàn nào? (GLCG.110)

T. Hội thánh là cộng đoàn những người được Lời Thiên Chúa quy tụ thành Dân Chúa và thành Thân Thể Ki-tô.

H. Hội Thánh khởi đầu và kết thúc như thế nào? (GLCG.111)

T. Hội thánh được Chúa Cha cưu mang từ đời đời và chuẩn bị trong thời Cựu ước, được Chúa Giê-su Ki-tô khai sinh nhờ cuộc khổ nạn và phục sinh của Người, rồi được Chúa Thánh Thần tỏ bày trong ngày lễ Ngũ Tuần và sẽ hoàn tất trong vinh quang trên trời.

H. Vì sao gọi Hội Thánh là Nhiệm Thể Chúa Ki-tô? (GLCG.116)

T. Vì mọi người trong Hội Thánh đều nhờ Chúa Thánh Thần mà được liên kết với Chúa Ki-tô và hiệp nhất với nhau như các chi thể hợp thành thân thể và liên kết với đầu.

H. Vì sao gọi Hội Thánh là Hiền thê của Chúa Ki-tô. ( GLCG.117)

T. Vì Chúa Ki-tô yêu thương Hội thánh đến nỗi lấy máu ra thanh tẩy và làm cho Hội thánh thành người mẹ sinh ra tất cả các con cái Thiên Chúa.

Hướng ý cầu nguyện: Hát: Thầy là cây nho.

Gợi ý sống đạo: Không vẽ, vạch bàn ghế tường nhà thờ.

Bài 16: CÁC ĐẶC TÍNH CỦA HỘI THÁNH

“Người thánh hóa và thanh tẩy Hội tánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội thánh xinh đẹp, lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhơ hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (Ep 5,26)

H. Hội thánh Công giáo có những đặc tính nào? (GLCG.119)

T. Hội thánh Công Giáo có bốn đặc tính này là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền.

H. Hội thánh duy nhất có đa dạng không? ( GLCG.121)

T. Hội thánh vừa là duy nhất vừa đa dạng vì Hội thánh bao gồm nhiều dân tộc thuộc nhiều nền văn hóa. Trong các thành phần của Hội cũng có những đặc sủng và những chức vụ khác nhau. Sự đa dạng này làm cho Hội thánh năng động và phong phú.

H. Tại sao trong Hội thánh lại có tội nhân. (GLCG.123)

T. Vì các thành phần của Hội Thánh chưa đạt tới sự thánh thiện trọn vẹn. Họ được mời gọi thanh tẩy và phải luôn nỗ lực sám hối, canh tân.

H. Những ai thuộc về Hội thánh Công giáo? ( GLCG.125)

T. – Trước hết là các tín hữu Công Giáo.

– Thứ đến là những người tin vào Chúa Ki-tô.

– Sau cùng là tất cả mọi người được Thiên Chúa an bài để thuộc về dân Người.

H. Vì sao Hội thánh có sứ mạng truyền giáo? (GLCG.126)

T. Vì:

– Một là Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ.

– Hai là Hội thánh có bổn phận đem chân lý được Chúa trao phó đến cho mọi người.

– Ba là chính Chúa Ki-tô, trước khi về trời đã sai các tông đồ đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân.

H. Chúng ta tiếp nối truyền thống các Tông đồ cách nào?

T. Chúng ta tiếp nối truyền thống các Tông đồ bằng hai cách:

– Một là hiệp nhất với Đức Giáo Hoàng, với các Đức Giám Mục là những Đấng kế vị các Tông đồ.

– Hai là tích cực góp phần vào việc loan báo Tin Mừng.

Hướng ý cầu nguyện: Xin cho mọi tín hữu biết sống hiệp thông với Hội thánh trong sự vâng phục vị chủ chăn.

Gợi ý sống đạo: Là học sinh Công giáo, tôi luôn sống thành thật, yêu thương.

Bài 17: TỔ CHỨC HỘI THÁNH

” Tôi còn có những chiên khác không thuộc đàn này, tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi, và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử”. (Ga 10,16)

H. Hội thánh Công giáo có những thành phần nào?

T. Hội thánh Công giáo gồm có Giáo sĩ, Tu sĩ và Giáo dân.

H. Hàng Giáo sĩ gồm có những ai? (GLCG.131)

T. Hàn Giáo sĩ gồm có Đức Giáo Hoàng, các Giám mục, các Linh mục và Phó tế.

H. Các Tu sĩ là ai? (GLCG.136)

T. Là những Ki-tô hữu muốn bước theo Chúa Giê-su cách triệt để, nên tự nguyện khấn khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục, theo những hình thức đã được Hội thánh phê chuẩn.

H. Đời sống tu trì nhắc ta điều gì? (GLCG.137)

T. Đời sống tu trì nhắc ta nhớ rằng: Đó là dấu chỉ tình yêu trọn vẹn của Hội thánh dành cho Chúa Ki-tô và cũng là dấu chỉ đời sống mai sau trên thiên quốc.

H. Giáo dân là ai? (GLCG.138)

T. Giáo dân là các tín hữu không có chức thánh và không ở trong bậc tu trì. Nhờ phép Rửa tội họ được dự phần theo cách của họ vào chức Tư tế, Ngôn sứ và Vương đế của Chúa Ki-tô.

H. Sứ mệnh riêng của giáo dân là gì? ( GLCG. 139)

T. Sứ mệnh riêng của người giáo dân là tìm kiếm Nước Thiên Chúa và làm việc tông đồ giữa trần gian trong những công việc thế tục.

Hướng ý cầu nguyện: Cầu nguyện cho mọi thành phần trong Hội thánh biết sống thánh thiện, đẹp nhất.

Gợi ý sống đạo: Học tiểu sử Đức Giám mục giáo phận.

Bài 18: LỊCH SỬ HỘI THÁNH TẠI VIỆT NAM

“Sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương tiện, vươn tới Đức Ki-tô vì Người là Đầu… Người làm cho toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái.”

H. Tin Mừng đã đến Việt Nam từ khi nào? (GLCG.140)

T. Vào thế kỷ 16 (1533), có một thừa sai tên là I-ni-khu đã đến Việt Nam, giảng đạo tại làng Ninh Cường và Trà Lũ thuộc tỉnh Nam Định ngày nay.

H. Người tín hữu Việt Nam đầu tiên là ai? (GLCG.141)

T. Là cụ Đỗ Hưng Viễn, người làng Bồng Trung, tỉnh Thanh Hóa, cụ được rửa tội tại Ma-cao thời vua Lê Anh Tôn.

H. Nhóm tín hữu đầu tiên đã giúp gì trong việc rao giảng Tin Mừng? (GLCG.142)

T. Nhóm tín hữu đầu tiên đã giúp các thừa sai học ngôn ngữ, phong tục Việt Nam và giảng đạo bằng tiếng Việt Nam.

H. Các thầy giảng đã đóng vai trò nào trong việc truyền giá? (GLCG.143)

T. Các thầy giảng đã hỗ trợ các thừa sai rất đắc lực trong việc giảng dạy giáo lý, điều hành và duy trì các cộng đoàn dân Chúa.

H. Những chứng nhân đức tin đầu tiên người Việt Nam là ai?

T. Tại miền Bắc (Đàng Ngoài) có anh Phan-xi-cô, chết năm 1630 vì làm công việc bác ái nên bị tra tấn và bị giết.

Tại miền Nam (Đàng Trong) có thầy An-rê Phú Yên bị bắt tại nhà Linh mục Đắc Lộ và bị chém đầu năm 1644.

H. Các nhà truyền giáo tại Việt Nam đã sống như thế nào? (GLCG.145)

T. Các ngài đã hy sinh, chấp nhận một nếp sống cực khổ, thiếu thốn tiện nghi, chịu đựng sự bắt bớ, bị ngược đãi và hiểu lầm.

H. Các tập thể nào đã góp công sức nhiều nhất cho Hội thánh Việt Nam? (GLCG.146)

T. Các tập thể đóng góp công sức nhiều nhất cho Hội thánh Việt Nam phải kể đến Hội Thừa sai Pa-ri, Dòng Tên, Dòng Đa-minh, Dòng Phan-xi-cô.

H. Ngoài vai trò của các thừa sai, việc phát triển của Hội thánh Việt Nam còn nhờ vào ai nữa? (GLCG.147)

T. Còn nhờ vào chính những người Việt Nam đã dâng hiến trọn cuộc sống cho Nước Trời, đem Tin Mừng đến khắp nơi và nuô dưỡng đời sống đức tin cho các anh em mình, đó là những linh mục và tu sĩ Việt Nam.

H. Những linh mục đầu tiên người Việt Nam là ai? (GLCG.148)

T. Là các linh mục: Giu-se Trang và Lu-ca bền (Đàng Trong) và linh mục Bê-nê-dic-tô Hiền, Gio-an Huệ (Đàng Ngoài) với Đức Giám mục Phan-xi-cô Pa-lu.

H. Hội thánh Việt Nam bắt đầu có giáo phận từ khi nào? (GLCG.149)

T. Vào ngày 9/9/1659, Tòa thánh đã thiết lập hai giáo phận đầu tiên trên đất Việt Nam và đặt hai Giám quản Tông Tòa: miền Nam (Đàng Trong) với Đức Giám mục Lam-be đờ Mót và miền Bắc (Đàng Ngoài) với đức Giám mục Phan-xi-cô Pa-lu.

H. Công đồng đầu tiên của Hội thánh Việt Nam được tổ chức tại đâu? (GLCG.150)

T. Công đồng đầu tiên của Việt Nam được tổ chức tại Phố Hiến vào 2/1670 dưới quyền chủ tọa của Đức Giám mục Lam-be dờ La Mót.

H. Nội dung của công đồng gồm những gì? (GLCG.151)

T. Công đồng đã đưa ra một chương trình hoạt động: chia giáo xứ, chọn Thánh Giu-se làm Bổn mạng và ấn định việc đào tạo Chủng sinh qua tổ chức nhà Đức Chúa Trời.

H. Đức tin Ki-tô giáo có được dễ dàng đón nhận và phát triển tốt đẹp tại Việt Nam không? (GLCG.152)

T. Đức tin Ki-tô giáo được tín hữu Việt Nam mau mắn đón nhận; nhưng để sống và giữ đức tin ấy, họ đã phải trải qua rất nhiều thử thách và gian nan.

H. Các Ki-tô hữu Việt Nam đã sống đức tin thế nào? (GLCG.153)

T. Các Ki-tô hữu Việt nam đã rất mực kiên cường giữ vững đức tin.

H. Cho đến nay, Hội thánh Việt nam đã có bao nhiêu Thánh Tử Đạo?

T. Trong số hàng trăm ngàn người đổ máu đào minh chứng cho đức tin, đã có 117 vị được Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II suy tôn lên bậc Hiển Thánh ngày 19/06/1988.

H. Đức Giám mục tiên khởi người Việt Nam là ai?

T. Vào năm 1933, Hội thánh Việt Nam có Giám mục tiên khởi là Đức Cha Gio-an Bao-ti-xi-ta Nguyễn Bá Tòng.

H. Hàng Giám mục Việt nam được thiết lập năm nào? (GLCG.156)

T. Ngày 24/11/1960, Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII đã thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành của Hội Thánh Việt Nam sau bốn thế kỷ đón nhận Tin Mừng.

H. Hiện này Hội thánh Việt Nam có bao nhiêu giáo phận? (GLCG.157)

T. Hiện nay Hội thánh Việt nam có 26 Giáo phận được chua trong ba Giáo Tỉnh là: Hà Nội, Huế và Sài Gòn.

H. Năm 1980 Hội thánh Việt nam có sự kiện nào đáng ghi nhớ? (GLCG.158)

T. Trong bối cảnh đất nước thống nhất, Hội Thánh Nam Bắc được sum họp một nhà, đại hội các Giám mục toàn quốc đã họp nhóm và khẳng định một đường hướng chung là “Sống Phúc Âm trong lòng dân tộc Việt nam để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”.

H. Người tín hữu Việt Nam ngày này sống đức tin giữa lòng dân tộc như thế nào? (GLCG. 159)

T. Người tín hữu Việt Nam phải hết lòng cảm tạ Thiên Chúa, cố gắng sống tinh thần Phúc âm yêu thương mọi người, xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn và làm chứng cho Chúa ngay trên chinh quê hương mình.

Hướng ý cầu nguyện: Xin ơn biết sống đức tin trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào.

Gợi ý sống đạo: Hãy kể tiểu sử một vị thánh Tử đạo Việt Nam.

Bài 19: ƠN PHỤC SINH VÀ ĐỜI SỐNG VĨNH CỬU

“Cái thân phải hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt; và cái thân phải chết này sẽ mặc lấy sự bất tử” (1 Cr 15,53)

H. Khi tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”, ta phải hiểu thế nào? (GLCG.173)

T. Ta phải hiểu là thân xác con người sau khi chết sẽ hư nát, nhưng Thiên Chúa sẽ cho thân xác ấy được sống lại trong ngày tận thế.

H. Theo Ki-tô giáo, sự chết có nghĩa là gì? (GLCG. 175)

T. Theo Ki-tô giáo, chết là kết thúc cuộc sống trần gian, là hậu quả của tội lỗi và là một số biến đổi đi vào cuộc sống mới.

H. Vũ trụ này sẽ ra sao? (GLCG.181)

T. Vào ngày sau hết, vũ trụ hữu hình này sẽ được biến đổi và thông phần vào vinh quang của Chúa Ki-tô, làm nên “Trời mới Đất mới”.

H. Niềm tin “Trời mới Đất mới” có ảnh hưởng gì trong cuộc sống của chúng ta? (GLCG.182)

T. Niềm tin đó giúp a nhận ra rằng bộ mặt thế giới này sẽ qua đi. Nhưng sự chờ mong một “Trời mới Đất mới” không làm giảm sút, trái lại càng thôi thúc chúng ta quan tâm vun trồng trái đất, và góp phần xây dựng xã hội loài người ngày một tốt hơn.

H. Kinh Tin kính kết thúc bằng “A-Men” nghĩa là gì? (GLCG.183)

T. Nghĩa là tôi tin lời Thiên Chúa dạy, những điều Thiên Chúa hứa và tôi hoàn toàn phó thác nơi Người.

Hướng ý cầu nguyện: Xin ơn biết sống tốt, để được chết thánh thiện.

Gợi ý sống đạo: Chăm sóc nhà cửa cho sạch đẹp.

Show Comments

No Responses Yet

Gửi phản hồi