Chương I – Tuyên xưng Đức Tin | Sống Đạo – Giáo lý cấp III | TGM Xuân Lộc

SỐNG ĐẠO là tập Giáo lý cuối cùng trong chương trình Giáo lý căn bản mà nội dung trích nguyên văn từ cuốn GIÁO LÝ CÔNG GIÁO của HĐGMVN phổ biến năm 1996. Tập Giáo lý này có tính bổ túc và hoàn chỉnh cho nội dung 2 cấp I và II. Tập Giáo lý này, tương tự Giáo lý cấp I và II, được soạn thành 132 tiết Giáo lý cho 132 ý chính trong 55 bài. Mỗi ý chính có tuyên đọc Lời Chúa.

Giáo Lý Sống Đạo giúp mỗi người tiếp xúc, hiểu biết và thân mật với CHÚA GIÊSU – MẪU GƯƠNG SỐNG ĐẠO. Một khi được tiếp xúc với Chúa, được Chúa soi sáng, dạy dỗ cho biết ý nghĩa, giá trị của những biến cố cuộc đời, cũng như được Chúa dạy cho biết cách sống, biết cách giải quyết vấn đề, mỗi người trở về cuộc sống với một sức sống mới, một nghị lực dồi dào, sẵn sàng dấn thân vào cuộc sống với một niềm tin tưởng và phấn khởi làm dậy men cuộc đời và trở thành “nhà truyền giáo” âm thầm nhưng đắc lực (x. Hc.HT 31).

Từ cuộc sống – Lên tới Chúa – Trở về cuộc sống là nhịp sống hàng ngày, hàng tuần, hàng năm, là nhịp sống thường xuyên, nhất là trong những biến cố quan trọng của cuộc đời, trong những éo le của cuộc sống, những trăn trở, thao thức, cả những lúc bị phản bội v.v… Vậy, qua việc học và tìm hiểu các cấp giáo lý, mỗi người có được một kiến thức Đức tin đúng đắn, vững vàng; có được một thói quen biết đi “từ cuộc sống-lên tới Chúa-trở về cuộc sống” trong một ý thức mới, một nghị lực mới là ước mong khao khát của Hồng Ân Huấn Giáo của Giáo phận, một công cuộc giáo dục Đức tin: Không chỉ gặp gỡ nhưng còn biết sống thông hiệp thân mật với Chúa Kitô (x.TH.DGL 5).

Người tín hữu được mời gọi trở về cuộc sống để sống chính cuộc đời của mình : Đạo Công giáo là đạo nhập thế.

Các chữ viết tắt

     Kinh Thánh(theo nhóm CGKPV).

1 Cr     1 Cô-rin-tô.                       Kh         Khải huyền.

2 Cr     2 Cô-rin-tô.                       Lc         Lu-ca.

Cv       Công vụ Tông đồ.              Mc        Mác-cô.

Dt       Do Thái.                            Mt         Mát-thêu.

Đnl     Đệ Nhị Luật.                      Pl          Phi-líp-phê.

Ep       Ê-phê-sô.                          1 Pr       1 Phê-rô.

Ga       Gio-an.                             2 Pr       2 Phê-rô.

1 Ga    1 Gio-an.                           Rm        Rô-ma.

2 Ga    2 Gio-an.                           St          Sáng Thế.

Gc       Gia-cô-bê.                         2 Tm     2 Ti-mô-thê.

Gl       Ga-lát.                               1 Tx      1 Thê-xa-lô-ni-ca.

Gr       Giê-rê-mi-a.                       2 Tx      2 Thê-xa-lô-ni-ca.

Is        I-sai-a.                               Xh         Xuất Hành.

     Văn kiện Hội thánh:

A. Công đồng Vatican II :

HT : Hiến chế về Hội thánh (Ánh sáng muôn dân).

PV   :   Hiến chế về Phụng vụ thánh.

LM :   Sắc lệnh về đời sống và chức vụ Linh mục.

B. Ngoài Công đồng Va-ti-ca-nô II :

Dz : Biểu thức đức tin do Đen-zin-gơ tổng hợp.

GL : Tân Giáo luật 1983.

GLTĐ : Giáo lý Tân định.

GLCG : Cuốn Giáo lý Công giáo Việt Nam, 1996.

PHẦN I: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN

Chương 1: Tôi tin – Chúng tôi tin

  • Bài 01: CON NGƯỜI CÓ KHẢ NĂNG ĐÓN NHẬN THIÊN CHÚA

“Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa, thì thật là hiển nhiên trước mắt họ vì chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ”      (Rm 1,19 )

H. Ta sống ở đời này để làm gì ?(GLCG.1)

T. Ta sống ở đời này để tìm hạnh phúc, và hạnh phúc thật là được hiệp thông với Thiên Chúa.

H. Tại sao hạnh phúc ấy chỉ có nơi Thiên Chúa ?(GLCG.2)

T. Vì ta được Thiên Chúa tạo dựng, nên khao khát hiệp thông với Người, như lời Thánh Au-gus-ti-nô nói :“Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng con cho Chúa, và lòng con những khắc khoải cho tới khi được an nghỉ trong Chúa”.

H. Ta có thể nhận biết Thiên Chúa bằng cách nào ? (GLCG.3)

T. Ta có thể nhận biết Thiên Chúa bằng hai cách này :

– Một là nhờ xem vẻ đẹp kỳ diệu và trật tự lạ lùng của vũ trụ.

– Hai là khi nhìn vào lòng mình, thấy có tiếng lương tâm bảo làm lành lánh dữ, có tự do và khát vọng hạnh phúc vô biên.

H. Nhận biết như  vậy đã đầy đủ chưa ? (GLCG.4)

T. Chưa, vì khả năng con người có giới  hạn, nên có những mầu nhiệm phải nhờ Thiên Chúa mặc khải mới biết được.

Hướng ý cầu nguyện: Theo tâm tình của Thánh Au-gus-ti-no, em dâng lời cầu nguyện cho mọi người biết tận dụng khả năng Chúa ban để nhận biết Thiên Chúa.

Gợi ý sống đạo: Em tôn trọng cảnh vật thiên nhiên là tạo vật của Thiên Chúa.

  • Bài 02 : THIÊN CHÚA MẶC KHẢI CON NGƯỜI

Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài” (Dt 1, 1-2)

H. Mặc khải là gì ?(GLCG.5)

T. Mặc khải là việc Thiên Chúa tỏ bày cho con người biết Thiên Chúa là ai và Người muốn gì. Nhờ đó con người có thể đến với Thiên Chúa và hiệp thông với Người.

H. Thiên Chúa mặc khải cho ta bằng cách nào ?(GLCG.6)

T. Thiên Chúa dùng lời nói và hành động mà tỏ mình cho ta qua từng giai đoạn trong lịch sử cứu độ.

H. Thiên Chúa mặc khải qua những giai đoạn nào? (GLCG.7)

Thiên Chúa đã mặc khải cho tổ tông loài người, cho các Tổ phụ, các Ngôn sứ và sau cùng Người đã mặc khải trọn vẹn nơi Chúa Giê-su Ki-tô.

H. Vì sao Chúa Giê-su Ki-tô là mặc khải trọn vẹn ? (GLCG.8)

T. Vì Chúa Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa làm người, là Lời duy nhất và hoàn hảo của Chúa Cha.

Hướng ý cầu nguyện: Xin dạy con biết Chúa & biết con sể sống trong tình yêu của Chúa.

Gợi ý sống đạo: Chân thành đón nhận Lời Chúa qua các vị chủ chăn của Hội thánh.

  • Bài 03:  CÁCH THỨC LƯU TRUYỀN MẶC KHẢI

“Lời ngôn sứ không bao giờ lại do ý muốn người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa” (2 Pr 1,21)

H. Mặc khải được lưu truyền thế nào? (GLCG.9)

T. Mặc khải được lưu truyền qua Thánh Kinh và Thánh Truyền.

H. Thánh Kinh là gì?   (GLCG.10)

T. Thánh Kinh là sách ghi chép mặc khải của Thiên Chúa dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần.

H. Thánh Truyền là gì?(GLCG.11)

Thánh Truyền là mặc khải của Thiên Chúa mà Chúa Giê-su đã trao phó cho các Tông đồ và các Đấng kế vị để các Ngài gìn giữ, trình bày và rao giảng cách trung thành.

H. Huấn quyền là gì?  (GLCG.12)

T. Huấn quyền là quyền của Hội thánh được Chúa Ki-tô trao phó để giải thích và áp dụng Lời Chúa.

H. Các tín hữu có dự phần vào việc lưu truyền mặc khải không ? (GLCG.13)

T. Tất cả các tín hữu đều dự phần vào việc lưu truyền mặc khải vì họ đã nhận được ơn Chúa Thánh Thần dạy dỗ và hướng dẫn.

Hướng ý cầu nguyện: Hát: “Lời Ngài là sức sống đời con”.

Gợi ý sống đạo: Em kính cẩn trang nghiêm khi nghe hoặc đọc lời Chúa.

  • Bài 04: KINH THÁNH: SÁCH GHI LỜI CHÚA

“Tất cả những gì viết tring Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh ứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính” (2 Tm 3,16).

H. Ai là tác giả Kinh Thánh? (GLCG.14)

T. Thiên Chúa là tác giả Kinh Thánh và người đã linh ứng cho một số người để họ viết những gì ngài muốn mặc khải.

H. Để hiểu đúng Kinh Thánh, ta phải làm gì? (GLCG.15)

T. Ta cần khiêm nhường xin Chúa Thánh Thần soi sáng và chỉ dẫn của Hội Thánh.

H. Kinh Thánh gồm mấy phần và bao nhiêu cuốn? (GLCG.16)

T. Kinh Thánh gồm hai phần: Cựu ước có 46 cuốn và Tân ước có 27 cuốn, trong đó bốn sách Tin Mừng là quan trọng nhất.

H. Đâu là phần trọng tâm của toàn bộ Kinh Thánh (GLCG.17)

T. Là Chúa Giê-su Ki-tô, vì toàn bộ Kinh Thánh quy hướng về Chúa Ki-tô và được hoàn tất nơi người.

H. Hội Thánh tôn kính Kinh Thánh thế nào? (GLCG.18)

T. Hội Thánh tôn kính Kinh Thánh như chính Thân Thể Chúa. Cả hai nuôi dưỡng & chi phối toàn thể đời sống Ki-tô giáo.

H. Kinh Thánh có cần cho đời sống chúng ta không? (GLCG.19)

T. Rất cần, vì “không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Ki-tô” (Th. Giê-rô-ni-mô). Bởi thế, ta phải siêng năng đọc, suy ngẫm và đem ra thực hành (x.Mt 7,26)

Hướng ý cầu nguyện: Dựa vào lời Thánh Giêrônimô, em cầu xin cho biết siêng năng suy ngẫm và yêu mến lời Chúa.

Gợi ý sống đạo: Bọc sách Kinh Thánh và để chỗ xứng đáng.

  • Bài 5: CON NGƯỜI ĐÁP LẠI LỜI THIÊN CHÚA

” Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều chúng ta không thấy. (Dt 11,1)

H. Con người đáp lại mặc khải của Thiên Chúa bằng thái độ vâng phục của Đức tin. (GLCG.20)

T. Con người đáp lại mặc khải của Thiên Chúa bằng thái độ vâng phục của Đức tin.

H. Vâng phục Đức tin là gì? (GLCG.21)

T. Vâng phục của Đức tin là gắn bó bản thân với Thiên Chúa, tự nguyện đón nhận tất cả những chân lý mặc khải, đồng thời để Thiên Chúa làm chủ và hướng dẫn đời ta.

H. Có những mẫu gương sáng chói nào về sự vâng phục đức tin? (GLCG.22)

T. Có hai mẫy gương sáng chói ta noi theo là Tổ phụ Áp-ra-ham và Đức Trinh Nữ Ma-ri-a.

H. Đức tin có những đặc điểm nào? (GLCG.23)

T. Đức tin vừa là hồng ân siêu nhiên Thiên Chúa ban, vừa là hành vi con người có hiểu biết và tự do.

H. Đức tin có tính cách cá nhân hay cộng đoàn? (GLCG.24)

T. Đức tin vừa có tính cách cá nhân vừa có tính cách cộng đoàn.

H. Vì sao đức tin có tính cách cá nhân (GLCG.25)

T. Vì đức tin là lời đáp trả tự do của mỗi người đối với Thiên Chúa là Đấng mặc khải.

H. Vì sao đức tin có tính cộng đoàn? (GLCG.26)

T. Vì ta đón nhận đời sống đức tin nhờ cộng đoàn dân Chúa. Hơn nữa, ta còn có nhiệm vụ thông truyền đức tin cho mọi người.

H. Đức tin có cần thiết không? (GLCG.27)

T. Đức tin rất cần thiết để được cứu độ, vì chính Chúa Giê-su đã dạy: “Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu độ, vì chính Chúa Giê-su đã dạy: “Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ” (Mc 16,16)

H. Những điều phải tin tóm lược trong kinh nào? (GLCG.28)

T. Những điều phải tin được tóm lược trong kinh Tin kính.

Hướng ý cầu nguyện: Đọc kinh Tin kính

Gợi ý sống đạo: Làm mọi việc dưới ánh mắt yêu thương của Chúa.

HẾT CHƯƠNG I

Show Comments

No Responses Yet

Gửi phản hồi